Nguyên lý Mệnh Thân - Phần 1

Nguyên lý Mệnh Thân - Phần 1

  • 04:00 11/07/2020
  • Xếp hạng 4.88/5 với 898 phiếu bầu

Dịch thì có Khí, Khí sinh Tượng, Tượng có Số, Số có Lý.

Mỗi một năm Trái Đất di chuyển trên Hoàng Đạo được 365+1/4 ngày, đi qua hết 12 Cung, mỗi Cung 30 độ. Trái Đất di chuyển trên Hoàng Đạo tạo ra 4 mùa do sự tự quay và trục Bắc Nam bị lệch. 4 mùa thực chất là Nhiệt, Mùa Xuân thì ấm áp, mùa Hạ thì nóng bức, mùa Thu thì mát mẻ, mùa Đông thì lạnh lẽo. Cũng do sự thay đổi nhiệt độ trong năm nên ta thấy mùa Xuân ứng với Mộc và mùa Hạ ứng với Hỏa thuộc Dương, mùa Thu ứng với Kim và mùa Đông ứng với Thủy thuộc Âm, Khí Thổ có lúc Âm lúc Dương, vào mùa Xuân và Hạ thì Khí Thổ thuộc Dương, mùa Thu và Mùa Đông khí Thổ thuộc Âm. Do vậy tiền đề của Ngũ hành vốn là Âm Dương.

Khí Trái Đất di chuyển trên Hoàng Đạo thì trung bình mỗi tháng sẽ có 2 tiết khí làm chủ, tùy vào tháng Sinh mà con người được hấp thụ cái khí Âm hay khí Dương mạnh nhất, hay là Khí Ngũ hành nào vượng nhất và suy nhất. Cái khí này vốn là Khí Thiên.

Song song với quá trình trên là sự tư quay của Trái Đất từ Tây sang Đông mà sinh ra ngày và đêm, nhìn từ mặt đất sẽ thấy mặt trời di chuyển từ Đông sang Tây do sự chuyển động tương đối của Trái đất so với không gian Thiên Cầu. Vì vậy người xưa có câu “thiên hữu chuyển, địa tả hoàn” , tùy vào người Sinh vào ngày hay đêm mà bẩm thụ khí Âm hay khí Dương mạnh của ngày đó, như sinh vào sáng sớm thì khí Âm Dương điều hòa hơn, sinh vào buổi trưa thì khí Dương thịnh Âm suy, sinh vào buổi chiều và tối thì ngược lại Âm thịnh Dương suy. Kết hợp với Tháng sinh sẽ cho ta biết con người bẩm thụ Khí Âm Dương Ngũ Hành thịnh suy như thế nào. Đó là tiền đề trong cách an Mệnh.

Đồng thời Mặt Trăng di chuyển trên Bạch đạo và hợp góc với Thiên Cầu và Hoàng đạo sẽ cho ta biết người sinh vào ngày trong tháng có đặc điểm gì. Tứ dư trong môn Thất Chính Tứ Dư kỳ thực chỉ là giao điểm của Bạch Đạo Hoàng Đạo và khoảng cách của Mặt Trăng so với Trái Đất, từ chuyển động biểu kiến của Chúng mà Khí Âm Dương Ngũ Hành sẽ thay đổi tạo nên những số mệnh khác nhau. Kết hợp với Năm sinh vốn mang ảnh hưởng mạnh của Ngũ tinh sẽ có số mệnh theo Năm, Tháng, Ngày, Giờ.

Mệnh thuận tháng nghịch giờ chẳng qua là sự quay quanh Mặt Trời trên Hoàng đạo và sự tự quay của nó từ Tây sang Đông, tiền đề trong cách an Thân chính là Trời thì quay về bên phải theo lý Thiên hữu chuyển, địa tả hoàn. Do Mệnh ứng với Địa di chuyển về bên Trái nên thuộc Âm, Thân ứng với Thiên nên thuộc Dương. Từ đây ta xác định được tiên đề tiếp theo Mệnh Thân là một cặp Âm Dương. Do sự chuyển động từ Tây sang Đông của Trái đất vốn là chuyển động thực nên Cung mệnh làm chủ để an 11 cung còn lại, còn Cung Thân vốn là sự chuyển động tương đối của Thiên Cầu từ Đông sang Tây nên không được dùng để an 11 Cung và Chính tinh. Cung Thân chỉ cho ta thấy sự bổ khuyết cho cung Mệnh.

Từ Cung mệnh ta xác định được Cục Số, vậy Ngũ hành Cục là gì? Ngũ hành Cục chính là Khí mà con người lúc sinh ra được bẩm thụ, tùy vào mỗi thời điểm mà con người bị ảnh hưởng mạnh nhất của một hành so với các hành khác nên người đó sẽ được bẩm thụ Khí ngũ hành đó nhiều nhất lúc sinh ra. Khí ở đây được hiểu theo lý của Chu Hy “trong khoảng Trời Đất chỉ có một thứ duy nhất là Khí” Khí thì có Lý, hay nói cách khác Khí ngũ hành mà ta thụ hưởng lúc sinh ra là Khí Thiên Địa hợp nhất và Khí ngũ hành tạo nên hình hài của ta vậy ( Nhân ).

Số của Cục là gì? Số chính là để diễn giải cụ thể Ngũ hành Cục, hay nói cách khác Số chính là Số hóa ngũ hành Cục, giúp cho việc phân định Hành Cục này so với Hành Cục khác, vì mỗi hành Cục đều có tính lý riêng biệt so với các ngũ hành Cục khác. Nên mỗi ngũ hành khác nhau sẽ có Số khác nhau. Ngũ hành Cục ở trên được nói đến như là Khí Thiên Địa hợp nhất tạo nên hình hài của con người lúc sinh ra, Số chính là những thông tin về ta lúc sinh ra. Những thông tin này giúp cho mỗi người có cái chung và riêng. Từ số ta có thể định vị Chính tinh, Chính tinh vốn là sự lưu chuyển từ Khí sang Hình thông qua Số hóa của Khí Ngũ hành Cục và ngày sinh. Cho nên Số vốn tự nhiên mà có song song với Ngũ hành Cục.

Khí Ngũ hành Cục đại diện cho Nhân, vốn là Khí Trời Đất thụ bẩm lúc sinh ra, mà con người thì có Âm Dương Nam nữ, Âm Nam Dương Nữ đi nghịch, Dương Nam Âm Nữ đi thuận đó vốn là hợp với cái Đạo của Trời Đất vậy. Cho nên Khí Ngũ Hành Cục cũng thuận theo lẽ tự nhiên của Đạo mà đi thuận hoặc đi nghịch. Khí ngũ hành Cục có Vượng có Suy theo thời gian mà tạo nên 12 Thời ( trạng thái ) của Vòng Trường Sinh, con người thì có Sinh Lão Bệnh Tử theo sự Thinh Suy của Ngũ hành Cục.

Đại vận chính là Thời của mỗi người theo Sinh Lão Bệnh Tử, cho nên Đại vận vốn dĩ theo 12 Thời của Vòng Trường Sinh Cục mà đi Thuận hay Ngịch tùy theo Nam Nữ Âm Dương.

Tại sao Đại vận lại Khởi từ Cung Mệnh? Cung Mệnh chính là Không gian của con người lúc sinh ra, mà Không gian thay đổi mà có Thời gian, hay Thời gian chính là thứ tự thay đổi trong Không gian, Không gian Cung Mệnh chính là Cột mốc để tính thời gian cuộc đời của con người, cho nên Đại vận khởi Tại Cung Mệnh.

Từ không gian Trời ( Thiên Can ) và Đất ( Địa chi) kết hợp được Không gian hợp nhất của Trời Đất, Không gian Trời đất hợp lại được yếu tố Thời gian là lục thập hoa giáp. Vậy Năm sinh vốn đã bao hàm Không Thời Gian, và từ đặc tính Không Thời Gian hợp nhất của Trời Đất mà con người được sinh ra ( bản mệnh ). Hay nói cách khác Bản mệnh là con người xuất hiện trong khoảng Trời Đất ở Thời gian năm đó. Vì chưa có tọa độ không gian lúc sinh ra, và chưa có thời điểm cụ thể mà chỉ có năm sinh, cho nên Bản mệnh giống như Linh hồn xuất hiện trong khoảng Trời Đất mà chưa có nơi trú ngụ.

Ngũ hành bản mệnh là Khí tiên thiên có được từ Khí Trời và Khí Đất ở Thời điểm là Năm người đó sinh ra. Tùy vào Thời Điểm mà có thể Khí tiên thiên khác nhau. Quy tụ lại 5 loại Khí tiêu biểu là Khí Thủy, Khí Hỏa, Khí Kim và Khí Mộc, Khí Thổ.

Từ Không Gian Cung Mệnh ( Vị ) hợp nhất Hoa giáp ( Thời ) Cung Mệnh sinh ra Cục. con người đã định vị và đánh dấu sự có mặt ở một thời điểm và không gian cụ thể lúc sinh ra. Cục chính là những thông tin về con người đó, giống như hệ gen của con người mà từ Cục sinh ra 14 Chính tinh, 14 chính tinh là Hình được sinh ra từ Khí của Cục. giống gen con người sinh ra kiểu hình vậy. Bản mệnh chính là linh hồn của con người, Cục và Chính tinh là Khí và Hình của con người. Cung mệnh là nơi trú ngụ của con người.

Ngũ hành Cục chính là thông tin về Khí con người, Khí này hấp thụ từ Trời Đất lúc sinh ra. Tùy vào loại Khí Thủy, Hỏa, Thổ, Kim, Mộc mà thông tin tương ứng mã hóa gen là Số của Ngũ hành Cục. Như Thủy Cục mang Số 2…từ hệ mã hóa đó ta có Chính tinh chính là Hình được triển khai từ mã hóa.

(Dẫn theo trang kimca.net)

Các bài viết khác:
Nguyên lý Mệnh Thân - Phần 1
Tác giả: Thầy Liêm Vũ tổng hợp theo: tuvi.cohoc.net
Tag: Mệnh, Thân, Nguyên lý,
 
Cùng chuyên mục
 
Bài viết liên quan
Tin tài trợ